Kafka bên bờ biển

Chương 47-48


Bạn đang đọc Kafka bên bờ biển: Chương 47-48

Chương 47
Tôi thức dậy ngay sau rạng đông, đun nước, pha trà. Tôi ngồi xuống cạnh cửa sổ để nhìn xem có gì diễn ra bên ngoài. Tất cả đều lặng tờ, không thấy dấu hiệu gì là có người ngoài phố. Đến cả chim chóc dường như cũng không muốn cất lên bản hợp xướng ban mai thường lệ của chúng. Những ngọn núi đằng đông chỉ hiện lên lờ mờ trong một ánh sáng yếu ớt. Nơi này xung quanh toàn núi cao, cho nên bình minh đến muộn và hoàng hôn thì lại đến rất sớm. Tôi đến đầu giường, nơi tôi để chiếc đồng hồ đeo tay, để xem mấy giờ, nhưng màn chữ số trống trơn. Tôi bấm đại mấy nút, cũng chả thấy gì. Pin còn mới, nhưng không hiểu vì lẽ gì mà đồng hồ lại chết trong khi tôi ngủ. Tôi đặt chiếc đồng hồ trở lại trên gối và xoa xoa cổ tay trái, nơi tôi thường đeo nó. Ở đây, thời gian không phải là một nhân tố quan trọng.
Trong khi nhìn ra quang cảnh trống trơn, vắng bóng chim bên ngoài, bỗng dưng tôi thấy thèm đọc sách, bất kỳ sách gì. Miễn là hình dạng giống quyển sách và có chữ in bên trong là được. Tôi chỉ cần cầm một quyển sách trong tay, lật giở các trang, lướt mắt trên những dòng chữ. Có điều là chẳng thấy bóng dáng một cuốn sách nào. Như thể ở đây, ngành in không tồn tại. Tôi tìm khắp phòng, rành là chẳng thấy gì có chữ ở trong.
Tôi mở tủ trong phòng ngủ để có những loại quần áo gì trong đó. Tất cả đều gấp gọn gàng. Không có cái nào mới, màu thì bạc phếch, vải thì nhẽo nhèo qua bao lần giặt. Tuy nhiên, tất cả đều có vẻ rất sạch. Có những áo phông cổ tròn, đồ lót, bít tất, sơ mi và quần bằng vải bông. Không vừa khít, nhưng cũng xuýt xoát khổ người tôi. Tất cả đều rất giản dị và không có họa tiết gì cả, như thể ý tưởng về những môtíp trang trí quần áo không bao giờ tồn tại. Không một chiếc nào mang nhãn mác – cả ở đây nữa, cũng loại trừ mọi dấu vết của chữ. Tôi cởi chiếc áo phông hôi hám ra, thay bằng một chiếc màu ghi thơm mùi nắng và xà phòng.
Một lúc sau – tôi không xác định được đích xác là bao lâu – cô gái đến. Cô khẽ gõ cửa và không chờ trả lời, mở luôn. Cửa không có bất kỳ kiểu khóa gì. Vai đeo chiếc túi vải, cô bước vào. Đằng sau cô, trời đã hửng sáng.
Cô đi thẳng vào bếp và rán mấy quả trứng trong một chiếc chảo nhỏ màu đen. Trứng ụp xuống dầu nóng phát ra một tiếng xèo vui tai và mùi trứng tươi rán tỏa khắp phòng. Trong khi đó, cô nướng mấy lát bánh mì trên một vỉ nướng bè bè như cái loại thường thấy trong những phim thời xa xưa. Quần áo và tóc cô vẫn y như tối hôm trước: áo váy xanh nhạt, tóc kẹp ra sau gáy. Da mịn, đẹp và đôi cánh tay trắng như sứ ánh lên trong nắng sớm. Qua cửa sổ mở, một con ong vè vè bay vào như để làm cho bức tranh thêm trọn vẹn. Cô gái mang đồ ăn tới bàn, ngồi xuống một chiếc ghế, nhìn tôi ăn món ốp-lết rau với bánh mì nướng phết bơ, uống trà nóng. Cô không ăn uống gì. Mọi sự lặp lại như tối qua.
“Ở đây, người ta có tự nấu lấy bữa ăn không?” tôi hỏi cô. “Tôi hỏi thế vì thấy cô đến nấu ăn cho tôi.”
“Một số người nấu lấy, một số khác có người nấu hộ,” cô đáp. “Nhưng nói chung, người ở đây chả ăn mấy.”
“Thật ư?”
Cô gật đầu. “Thi thoảng họ mới ăn. Khi nào họ thích.”
“Cô muốn nói không ai ăn nhiều như tôi chứ gì?”
“Anh có thể nhịn cả ngày không ăn được không?”
Tôi lắc đầu.
“Người ở đây thường nhịn ăn cả ngày mà không sao. Trên thực tế, họ thường quên ăn, có khi cả mấy ngày liền.”
“Tôi chưa quen với cuộc sống ở đây, nên tôi vẫn phải ăn.”
“Hẳn thế,” cô nói. “Vì thế em mới đến đây nấu cho anh.”
“Phải mất bao lâu tôi mới quen được với nơi này?” tôi nhìn vào mặt cô, hỏi.
“Bao lâu?” cô nhắc lại và từ từ lắc đầu. “Em không biết. Đây không phải là vấn đề thời gian. Đến lúc ấy, anh sẽ thấy là mình đã quen rồi.”
Chúng tôi ngồi đối diện nhau, hai tay cô úp sấp trên bàn. Mười ngón tay nhỏ nhắn cương nghị của cô rành là thật trước mắt tôi. Trực diện với cô, tôi thấy từng thoáng rung động của hàng mi cô, đếm được từng cái chớp mắt của cô, quan sát từng sợi tóc cô xõa xuống trán. Tôi không thể nào rời mắt khỏi cô.
“Lúc ấy?” tôi hỏi.
“Sẽ không phải như anh cắt bỏ một cái gì khỏi mình và ném nó đi đâu,” cô nói. “Không phải là ném đi mà là nhận lấy, hấp thụ nó vào trong mình.”
“Và tôi sẽ nhận cái đó vào trong tôi?”
“Đúng thế.”
“Rồi thì sao?” tôi hỏi.” Sau khi tôi nhận nó, điều gì sẽ xảy đến?”
Cô khẽ nghiêng đầu ngẫm nghĩ, một cử chỉ hết sức tự nhiên. Những sợi tóc lại đu đưa. “Rồi anh sẽ trở thành bản thân anh trọn vẹn,” cô nói.
“Vậy theo cô, cho đến nay, tôi chưa trọn vẹn là chính tôi?”
“Bây giờ anh cũng hoàn toàn là anh,” cô nói rồi nghĩ lại. “Có nghĩa là hơi khác một tí. Nhưng em không biết diễn tả thế nào cho chính xác.”
“Tức là, chừng nào nó chưa thực sự xảy đến thì ta chưa hiểu hết được, phải không?”
Cô gật đầu.
Tôi nhìn cô mà thấy nhói trong tim và khi điều đó trở nên quá đau đớn, tôi nhắm mắt lại. Nhưng rồi tôi lại mở ra ngay để chắc chắn là vẫn còn đó. “Ở đây, người ta sống theo kiểu cộng đồng, đúng không?”
Cô nghĩ một lúc. “Mọi người sống với nhau và dùng chung một số thứ như nhà tắm, vòi hoa sen, nhà máy điện, chợ. Có một số thỏa thuận ngầm đơn giản, chẳng có gì là phức tạp. Không có gì cần nghĩ ngợi, hoặc thậm chí phải nói ra lời. Cho nên em không cần phải giải thích gì cho anh về cách thức làm cái này cái nọ. Điều quan trọng nhất ở đây là mỗi người cứ để cho sự vật thụ mình vào. Chừng nào anh làm thế, thì chẳng có vấn đề gì.”
“Hấp thụ nghĩa là thế nào?”
“Chẳng hạn như khi anh ở trong rừng, anh trở thành một bộ phận khăng khít của nó. Khi anh ở trong mưa, anh là một phần của cơn mưa. Khi anh ở trong buổi sáng, anh là một bộ phận của buổi sáng. Khi anh ở bên em, anh là một bộ phận
“Khi cô ở bên tôi, cô là một bộ phận không thể tách rời của tôi chứ?”
“Đúng vậy.”
“Cô cảm thấy như thế nào khi cùng lúc vừa là chính mình vừa là một bộ phận của tôi?”
Cô nhìn thẳng vào tôi và đưa tay lên sờ chiếc cặp tóc. “Rất tự nhiên. Một khi đã quen rồi thì hết sức đơn giản. Như là bay ấy.”
“Cô biết bay?”
“Đó chỉ là thí dụ,” cô nói và mỉm cười, một nụ cười không mang ý nghĩa sâu xa hoặc hàm ẩn gì, cười để mà cười thôi. “Anh không thể biết được cảm giác khi bay là thế nào, chừng nào anh chưa thực sự bay. Ý em là như thế.”
“Vậy đó là một điều tự nhiên, thậm chí ta không cần phải nghĩ đến nó?”
Cô gật đầu. “Vâng, nó hoàn toàn tự nhiên, tĩnh mặc, êm đềm, một cái gì đó ta không cần phải nghĩ đến. Nó thoải mái như không ấy.”
“Tôi hỏi nhiều quá, phải không?”
“Không đâu,” cô đáp. “Em chỉ muốn sao có thể giải thích được rõ ràng hơn thôi.”
“Cô có ký ức không?”
Cô lại lắc đầu và đặt tay lên bàn, lần này để ngửa. Cô nhìn tay mình, sắc mặt không biểu lộ gì.
“Không. Ở một nơi mà thời gian không quan trọng thì ký ức cũng thế. Dĩ nhiên, em có nhớ là tối qua đã đến đây nấu món hầm cho anh. Và anh đã ăn hết sạch, phải không? Về hôm trước nữa, em có nhớ một ít. Nhưng x hơn nữa thì em chả nhớ gì. Thời gian đã hòa tan vào trong em và em không còn phân biệt được sự kiện này với sự kiện nọ.”
“Vậy ở đây, ký ức cũng không quan trọng?”
“Đúng,” cô cười tươi rói. “Ở đây, ký ức không quan trọng. Đó là phận sự của thư viện.”
Cô đi rồi, tôi ngồi bên cửa sổ, giơ một bàn tay ra ngoài nắng. Bóng nó in trên thành cửa sổ, rõ nét năm ngón rành rành. Con ong thôi không vo ve bay quanh nữa mà đậu trên một ô kính. Dường như nó có một điều gì cần suy nghĩ nghiêm túc. Và tôi cũng vậy.
Khi mặt trời vượt qua thiên đỉnh, bà đến chỗ tôi đang ở, gõ nhè nhẹ và mở cửa. Trong một lúc, tôi không dám chắc là mình đang nhìn thấy ai – cô gái trẻ hay bà. Chỉ một thoáng chuyển dịch ánh sáng hay cách gió thổi là đủ để người đứng trước mặt biến đổi hoàn toàn: lúc này là cô gái mười lăm, lát sau đã biến thành Miss Saeki. Tuy nhiên, điều đó không thực sự diễn ra. Không nghi ngờ gì nữa, người đứng trước mặt tôi đích thị là Miss Saeki chứ không phải ai khác.

“Chào,” bà nói bằng một giọng tự nhiên như khi chúng tôi gặp nhau trong hành lang thư viện. Bà mặc chiếc sơ mi dài tay màu xanh nước biển và cái váy đồng bộ chấm đầu gối, đeo một chiếc vòng bạc mảnh và hoa tai bằng ngọc trai – hệt như tôi thường thấy bà. Đôi giày cao gót bước trên bậc thềm phát ra những tiếng khô ngắn, một âm thanh hơi lạc điệu ở đây. Từ khung cửa, bà đứng nhìn tôi như thể để kiểm tra xem có thật là tôi hay không. Cố nhiên, đây chính thật là tôi. Cũng như bà đích thị là Miss Saeki.
“Cô vào dùng chén trà nhé?” tôi mời.
“Rất vui lòng,” bà nói. Và như thể, cuối cùng, đã đủ dũng khí, bà bước và
Tôi vào bếp, mở lò, đun nước, cố gữ cho nhịp thở bình thường.
Bà ngồi vào đúng chiếc ghế cô gái vừa ngồi, bên bàn ăn. “Cô có cảm giác như chúng mình lại đang ở thư viện,” bà nói.
“Đúng thế,” tôi tán thưởng. “Chỉ khác cái là không có cà phê và không có Oshima.”
“Và không thấy một cuốn sách nào,” bà nói.
Tôi pha hai tách trà thảo mộc và mang ra bàn, ngồi đối diện bà. Chim líu lo bênngoài cửa sổ mở rộng. Con ong vẫn đang ngủ trên ô kính.
Miss Saeki là người đầu tiên lên tiếng. “Cô muốn cháu biết cô đến đây không dễ dàng gì. Nhưng cô cần gặp cháu và nói chuyện với cháu.”
Tôi gật đầu. “Cháu rất vui thấy cô đến.”
Nụ cười quen thuộc của bà thấp thoáng trên môi. “Có một điều cô muốn nói với cháu.” Nụ cười của bà gần giống với nụ cười của cô gái nhưng có chiều sâu hơn, một nét khác biệt nhỏ khiến tôi xúc động.
Bà ấp cả hai tay quanh tách trà. Tôi nhìn đôi hoa tai ngọc trai nhỏ xíu của bà. Còn bà thì ngẫm nghĩ, lần này lâu hơn mọi khi.
“Cô đã đốt hết những hồi ức của mình,” bà nói, chậm rãi chọn từng chữ. “Chúng đã bốc thành khói và biến mất trong thinh không. Cho nên chẳng bao lâu nữa, cô sẽ quên hết. Quên mọi thứ – kể cả thời gian cô ở bên cháu. Vì thế cô muốn gặp và nói chuyện với cháu trong thời hạn sớm nhất có thể. Trong khi cô hãy còn nhớ.”
Tôi vươn cổ nhìn con ong đậu trên cửa sổ, cái bóng nhỏ xíu của nó chỉ là một chấm đen trên
“Điều quan trọng nhất,” bà nói nhỏ nhẹ, “là cháu phải ra khỏi đây. Đi thật nhanh, hết sức của cháu. Rời khỏi đây, xuyên qua khu rừng và trở về với cuộc đời cháu đã bỏ lại. Cửa vào sắp đóng lại. Hãy hứa với cô là cháu sẽ làm thế.”
Tôi lắc đầu. “Miss Saeki, có điều này cô không hiểu, cháu không có thế giới nào để trở về. Cả đời, chẳng có ai thực sự yêu cháu hoặc cần đến cháu. Cháu chẳng biết ai có thể trông cậy được ngoài bả thân mình. Đối với cháu, cái cụm từ cuộc đời cháu đã bỏ lại là vô nghĩa.”
“Nhưng cháu vẫn phải trở về.”
“Ngay cả nếu không có gì chờ cháu ở đó? Ngay cả nếu chẳng ai quan tâm đến sự hiện diện của cháu ư?”
“Đó không phải là lý do,” bà nói. “Đó là điều cô muốn. Cô muốn cháu ở đó.”
“Nhưng cô có ở đấy đâu?”
Bà nhìn xuống hai bàn tay nắm chặt tách trà. “Phải, cô không còn ở đấy nữa.”
“Cô cần gì ở cháu nếu như cháu trở lại đó?”
“Chỉ một điều thôi,” bà nói, ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào mắt tôi. “Cô muốn cháu nhớ đến cô. Nếu có cháu nhớ cô, thì dù mọi người khác đều quên, cô cũng bất cần.”
Im lặng trùm lên chúng tôi một lúc. Một im lặng sâu thẳm.
Một câu hỏi dâng lên trong tôi, một câu hỏi lớn đến nỗi nó làm cổ họng tôi nghẹn ắng, khiến tôi gần như không thở được. Cuối cùng, bằng cách nào đó, tôi kìm7;c, nuốt ực xuống và chọn một câu hỏi khác. “Việc tưởng nhớ quan trọng đến thế ư?”
“Cũng tùy,” bà đáp và khẽ nhắm mắt lại. “Trong một số trường hợp, đó là điều quan trọng nhất.”
“Thế mà cô lại đốt hết hồi ức của mình.”
“Cô không cần đến nó nữa,” Miss Saeki đặt hai tay úp sấp trên bàn, như cách cô gái hôm đầu. “Kafka, cô xin cháu một điều. Cô muốn cháu mang bức tranh ấy đi.”
“Cô muốn nói bức tranh trong phòng cháu ở thư viện? Bức tranh vẽ biển?”
“Phải,” Miss Saeki gật đầu, “bức Kafka bên bờ biển. Cô muốn cháu mang nó đi. Mang đi đâu, cô không cần biết. Đến bất kỳ nơi nào cháu đến.”
“Nhưng nó thuộc sở hữu của ai không?”
Bà lắc đầu. “Nó là của cô. Người ấy đã tặng cô trước khi đi học đại học ở Tokyo. Từ đó, nó luôn ở bên cô. Sống ở đâu, cô cũng treo nó lên tường trong phòng cô. Khi cô bắt đầu làm việc ở thư viện Komura, cô trả nó về căn phòng ấy, nơi nó được treo đầu tiên, nhưng chỉ là tạm thời thôi. Cô để lại cho Oshima một bức thư, dặn rằng cô muốn cháu giữ bức tranh đó. Xét cho cùng, về căn nguyên, bức tranh đó là của cháu.”
“Của cháu?”
Bà gật đầu. “Cháu ở trong đó mà. Và cô cũng ở đó, đang nhìn cháu. Bên bờ biển, đã lâu lắm rồi. Gió thổi, những đám mây trắng bồng bềnh và mãi mãi là mùa hè.”
Tôi nhắm mắt lại. Tôi đang ở trên bãi biển và đó là mùa hè. Tôi nằm dài trên một chiếc ghế bố. Tôi có thể cảm thấy lớp vải thô nháp của nó trên làn da. Tôi hít thật sâu mùi biển và thủy triều. Ngay cả nhắm mắt, tôi vẫn cảm thấy chói nắng. Tôi có thể nghe thấy tiếng sóng vỗ bờ. Tiếng sóng lúc lùi xa, lúc tiến lại gần, như thể thời gian làm nó lắc qua lắc lại. Gần đấy, có người đang vẽ tôi. Và ngồi cạnh anh ta, một cô gái mặc chiếc áo váy ngắn tay màu xanh nhạt đang nhìn về phía tôi. Cô đội một chiếc mũ rơm tết nơ trắng trên mái tóc duỗi thẳng, và vốc cát cho chảy qua kẽ ngón tay. Những ngón tay thon dài: những ngón tay của người chơi dương cầm. Đôi cánh tay mịn màng ánh lên trong nắng. Một nụ cười rất tự nhiên thấp thong trên môi cô. Tôi yêu cô. Và yêu tôi.
Đó là ký ức.
“Cô muốn cháu giữ bức tranh đó mãi mãi,” Miss Saeki đứng dậy đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Mặt trời vẫn còn cao trên bầu trời. Con ong vẫn ngủ. Miss Saeki đưa ngón tay lên che cho đỡ chói mắt và nhìn một cái gì đó ở xa tít, rồi quay lại đối mặt tôi. “Cháu phải đi thôi,” bànói.
Tôi đến bên bà. Tai bà cọ vào cổ tôi và tôi cảm thấy chiếc hoa tai cưng cứng trên làn da. Tôi áp cả hai lòng bàn tay vào lưng bà như thể cố giải mã một tín hiệu trên đó. Tóc bà chạm nhẹ vào má tôi. Bà ghì chặt tôi, những ngón tay bấm mạnh vào lưng tôi. Những ngón tay níu riết lấy bức-tường-thời-gian. Mùi biển, tiếng sóng xô bờ. Có ai gọi tên tôi từ xa, rất xa.
“Cô có phải là mẹ cháu không?” cuối cùng, tôi cũng đủ sức để thốt ra câu hỏi đó.
“Cháu đã biết câu trả lời rồi đấy,” Miss Saeki nói.
Bà nói đúng, tôi đã biết câu trả lời. Nhưng cả hai chúng tôi không ai diễn đạt nó thành lời. Làm thế sẽ tiêu tan hết ý nghĩa của nó.
“Lâu lắm rồi, cô đã bỏ mặc một người mà lẽ ra cô không nên bỏ. Một người mà cô yêu hơn bấ cái gì khác trên đời. Cô sợ rằng một ngày nào đó, cô sẽ mất người đó. Cho nên cô phải chủ động. Nếu như số phận muốn rằng cô phải mất người đó bằng cách này hay cách khác, thì cô quyết định là thà tự mình chủ động bỏ còn hơn. Dĩ nhiên, cô cảm thấy giận dữ, một nỗi giận dữ không bao giờ nguôi. Nhưng đó là một sai lầm lớn. Lẽ ra cô tuyệt đối không nên bỏ người ấy.”
Tôi lặng thinh nghe.
“Con đã bị gạt bỏ bởi cái người duy nhất không bao giờ nên làm điều đó,” Miss Saeki nói. “Kafka… con có tha thứ cho ta không?”
“Con có quyền tha thứ không?”
Bà nhìn vai tôi và gật đầu liền mấy cái. “Chừng nào nỗi giận dữ và sợ hãi không ngăn con.”
“Miss Saeki, nếu con thực sự có quyền tha thứ, thì… vâng, con tha thứ cho cô,” tôi nói.
Mẹ ơi, mày nói, con tha thứ ẹ. Và với những lời đó thốt lên thành tiếng, cái phần băng giá trong tim mày sụp đổ.
Bà lặng lẽ buông tôi ra. Bà tháo chiếc cặp tóc ra và không một giây lưỡng lự, đâm mạnh đầu nhọn vào lòng cổ tay trái mình. Tay phải bà ấn chặt nó xuống một mạch ven và máu bắt đầu ứa ra. Giọt đầu tiên giỏ đánh độp xuống sàn nhà. Không một lời, bà giơ cánh tay về phía tôi. Một giọt máu nữa rơi xuống sàn.
Tôi cúi xuống và đặt môi lên vết thương nhỏ, thè lưỡi liếm máu bà, nhắm mắt lại thưởng thức vị của nó. Tôi ngậm chút máu trong miệng và từ từ nuốt. Máu bà chảy sâu và họng tôi. Mặt ngoài khô nứt của tim tôi lặng lẽ hút kiệt nó. Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu mình cần thứ máu ấy đến mức nào. Tâm trí tôi ở tận đâu đâu, nhưng thân xác tôi thì hãy còn ở ngay đây – y như một linh hồn sống vậy. Tôi cảm thấy muốn hút cạn đến giọt máu cuối cùng của bà, nhưng không thể được. Tôi nhấc môi khỏi cánh tay bà và nhìn dõi vào mặt bà.

“Vĩnh biệt Kafka Tamura,” Miss Saeki nói. “Hãy quay về nơi chốn của con và hãy sống.”
“Miss Saeki?” tôi hỏi.
“Gì vậy?”
“Sống có ý nghĩa gì? Quả thật con không hiểu.”
Bà buông tôi ra và nhìn tôi. Đặt một ngón tay lên môi tôi. “Hãy ngắm bức tranh,” bà bình thản. “Hãy tiếp tục nhìn ngắm bức tranh. Như ta đã làm thế.”
Và bà đi. Bà mở cửa ra, không ngoái lại, bước ra ngoài và đóng cửa lại. Tôi đứng ở cửa sổ nhìn theo. Bà nhanh chóng biến mất trong bóng đổ của một ngôi nhà. Tay đặt trên bậu cửa sổ, tôi dõi mắt thật lâu vào chỗ nhà biến mất. Có thể bà còn quên chưa nói một điều gì đó và sẽ quay lại chăng. Nhưng không có chuyện ấy. Tất cả chỉ còn lại một thiếu vắng, giống như một khoảng trống.
Con ong đã thức dậy và vo ve quanh tôi một lúc. Rồi như tôi chợt nhớ ra mình phải làm gì, nó bay vù vù qua cửa sổ ra ngoài. Nắng vẫn rọi xuống. Tôi trở lại bàn, ngồi xuống. Tách trà bà uống dờ còn đó. Tôi để nó ở nguyên chỗ, không đụng đến. Cái tách tựa như một ẩn dụ. Một ẩn dụ về ký ức chẳng bao lâu sẽ mất đi.
Tôi cởi chiếc sơ mi và mặc lại chiếc áo phông thấm mồ hôi hôi rình. Tôi đeo chiếc đồng hồ chết vào cổ tay trái. Rồi tôi đội chiếc mũ Oshima cho, lộn đằng trước ra sau, và đeo cặp kính râm mắt xanh da trời vào. Cuối cùng, tôi mặc chiếc áo sơ mi dài tay ra ngoài. Tôi vào bếp, vặn vòi nước uống một cốc, rồi bỏ cốc không vào bồn rửa và nhìn quanh phòng một lần cuối. Nhìn cái bàn ăn và những chiếc ghế. Nhìn chiếc ghế cô gái và Miss Saeki đã ngồi. Tách tr trên bàn. Tôi nhắm mắt lại và hít một hơi thật sâu. Con đã biết câu trả lời rồi đấy.
Tôi mở cửa, ra ngoài và đóng cửa lại. Bước xuống các bậc thềm, bóng đổ rõ nét trên mặt đất, như thể nó bám riết lấy chân tôi. Mặt trời vẫn còn cao vòi vọi.
Ở chỗ cửa rừng, hai người lính đang tựa vào một thân cây như thể họ vẫn đang chờ tôi. Trông thấy tôi, họ không hỏi một câu. Tựa hồ họ đã biết tôi đang nghĩ gì. Rồi họ khoác súng lên vai.
Người lính cao đang nhai một cọng cỏ.
“Cửa rừng vẫn còn mở,” anh nói. “Ít nhất là cách đây một phút, khi anh kiểm tra thì nó vẫn mở.”
“Chú em không phiền nếu các anh đây vẫn giữ nhịp đi như trước chứ?” anh to con hỏi. “Chú em theo được chứ?”
“Không vấn đề. Em theo kịp được.”
“Nhưng nếu ta đến đó mà cửa đóng rồi thì thành vấn đề đấy,” anh cao bổ sung.
“Thế thì chú em sẽ bị kẹt ở đây đấy,” anh to con nói thêm.
“Em biết,” tôi nói.
“Rời khỏi đây, chú em không tiếc à?” anh cao hỏi.
“Không hề.”
“Vậy thì ta đi thôi.”
“Tốt nhất là đừng nhìn lại đằng sau,” anh to con nói.
“Phải, đó là một ý hay,” anh cao bình luận
Và một lần nữa, tôi lại đi xuyên rừng.
Một lần, khi đang leo một con dốc, tôi có ngoái nhìn lại. Mặc dù hai anh đã cảnh báo, tôi vẫn không đừng được. Đây là điểm cuối cùng từ đó có thể nhìn thấy thị trấn. Đi quá nữa, nó sẽ khuất hẳn sau một bức tường cây cao và cái thế giới ấy sẽ biến mất vĩnh viễn khỏi tầm mắt tôi.
Phố xá vẫn tịnh không một bóng người. Một dòng suối đẹp chảy qua thung lũng, những ngôi nhà nhỏ hai bên đường, những cột điện đổ bóng dài trên mặt đất. Trong một lúc, tôi sững ra tại chỗ. Tôi phải quay lại, bất kể là thế nào. Ít nhất tôi cũng có thể ở đến chiều, khi cô gái với cái túi vải đến thăm tôi. Hễ anh cần là em sẽ đến ngay. Có một cục gì đó nóng rát và một thứ nam châm cực mạnh hút tôi trở lại về phía đó. Chân tôi như bị đổ chì, không nhúc nhích được. Nếu tôi đi, tôi sẽ không bao giờ gặp lại cô. Tôi dừng lại. Tôi mất hết ý thức về thời gian. Tôi muốn kêu to với hai anh lính đi phía trước: Em không về nữa đâu, em ở lại. Nhưng không một tiếng nào được thốt ra. Lời chữ mất hết sức sống rồi.
Tôi bị kẹt giữa hai khoảng trống. Tôi không biết thế nào là phải, thế nào là quấy. Tôi cũng không biết mình muốn gì nữa. Tôi đang đứng trơ trọi giữa một cơn bão cát khủng khiếp. Tôi không cử động được, thậm chí không nhìn thấy đầu ngón tay mình nữa. Cát trắng như xương nghiền thành bột siết chặt quanh tôi. Nhưng tôi nghe thấy Miss Saeki nói với tôi bằng một giọng cương quyết: “Bất kể thế nào, con cũng phải trở về. Ta muốn thế. Muốn con phải ở đó.”
Ma thuật bị phá vỡ và tôi định thần lại. Máu nóng trở lại cơ thể tôi. Máu bà truyền cho tôi, những giọt máu cuối cùng còn lại nơi bà. Phút sau, tôi quay mặt về phía trước và đi theo hai anh lính. Tôi rẽ ngoặt một góc đường và cái thế giới nhỏ bé dưới thung kia biến mất, tani mộng. Giờ tôi chỉ tập trung vào việc đi qua rừng mà không bị lạc. Không chệch khỏi con đường mòn. Đó là điều quan trọng tôi phải làm.
Cửa rừng vẫn còn mở. Hãy còn thì giờ cho đến tối. Tôi cảm ơn hai anh lính. Họ đặt súng xuống và, như hôm trước, lại ngồi lên tảng đá lớn bằng phẳng. Anh cao vẫn đang nhấm nháp một cọng cỏ. Họ không hề thở dốc sau cuốc xuyên rừng với tốc độ đứt hơi.
“Đừng quên điều anh nói với chú em về lưỡi lê đấy,” anh cao nói. “Khi chú em đâm lê vào kẻ địch, chú em phải vừa xoáy vừa rạch cho nát ruột nó ra. Nếu không, nó sẽ làm thế với chú em. Cái thế giới ngoài ấy nó là thế.”
“Nhưng không phải chỉ có vây,” anh to con nói.
“Tất nhiên,” anh cao đáp và hắng giọng. “Đấy là mình nói về cái mặt tối của sự vật thôi.”
“Cũng thật khó để phân biệt cái đúng với cái sai,” anh to con nói.
“Nhưng đó lại chính là điều ta phải làm,” anh cao nói.
“Có lẽ thế,” anh to con nói.
“Còn một điều nữa,” anh cao nói. “Một khi chú em rời khỏi đây, chớ có ngoái nhìn lại chừng nào chú em chưa tới đích. Không một lần nào, chú em hiểu không?”
“Cái đó quan trọng đấy,” anh to con nhấn thêm.
“Ban nãy, không hiểu sao chú em thoát được,” anh cao nói, “nhưng lần này thì nghiêm trọng đấy. Chưa tới nơi định đến, thì đừng bao giờ ngoái nhìn lại.”
“Đừng bao giờ,” anh to con nói.
“Em hiểu,” tôi nói với hai anh.
Tôi cảm ơn họ một lần nữa và chào tạm biệt.
Hai anh đứng nghiêm chào kiểu nhà binh. Tôi biết sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa. Họ cũng biết thế. Và đôi bên đều biết thế, chúng tôi vĩnh biệt nhau.
Tôi không nhớ rõ lắm là sau khi chia tay với hai anh lính, tôi đã làm thế nào để về được tới căn nhà gỗ của Oshima. Chắc là trong khi băng qua rừng rậm, tâm trí tôi để tận đâu đâu. Kỳ lạ thay, tôi lại không bị lạc. Tôi nhớ mang máng là đã thấy chiếc ba lô nhỏ bị vứt đi hôm rồi và đã nhặt nó lên như cái máy. Với chiếc la bàn, chiếc rìu nhỏ, chiếc bình xịt sơn cũng thế. Tôi cũng nhớ lúc thấy lại những dấu sơn vàng đã xịt trên các thân cây như những cái vẩy do một con bướm đêm khổng lồ để lại.
Tôi đứng trong khoảng phát quang trước căn nhà gỗ và nhìn lên trời. Thế giới quanh tôi bỗng tràn đầy những âm thanh tưng bừng: tiếng chim ríu rít, tiếng suối róc rách, tiếng gió rung lá xào xạc. Tất thảy đều nhỏ nhẹ, nhưng, với tôi, dường như thể những cái nút bịt chặt lỗ tai vừa được mở bung ra và tất thảy đều vang lên gần kề, sinh động và ấm áp xiết bao. Tất cả quyện lẫn với nhau, tuy nhiên, tôi vẫn phân biệt được từng âm thanh riêng lẻ. nhìn xuống chiếc đồng hồ đeo ở cổ tay: nó lại chạy rồi. Những con số nhấp nháy trên màn hình bé xíu, mỗi phút lại thay đổi, như không có chuyện gì xảy ra vậy. Lúc này là 4 giờ 16 phút.
Tôi vào nhà và cứ để nguyên quần áo nằm trên giường. Kiệt lực. Tôi nằm ngửa và nhắm mắt lại. Một con ong đậu trên cửa sổ. Cánh tay cô gái ánh lên dưới nắng như sứ. “Đó chỉ là thí dụ thôi,” cô nói.
“Hãy nhìn ngức tranh,” Miss Saeki nói. “Như cô đã từng làm thế.
Những hạt-cát-thời-gian trắng xóa chuội qua giữa những ngón tay thon dài của cô gái. Sóng nhẹ nhàng xô bờ, trào lên, rớt xuống rồi vỡ ra. Trào lên, rớt xuống rồi vỡ ra. Và ý thức của tôi bị hút vào một hành lang tối om.
Chương 48

“Lạ chưa kìa!” Hoshino nhắc lại.
“Có gì là lạ, cậu Hoshino,” con mèo đen mặt to, coi bộ khá già, uể oải nói. “Tôi chắc cậu buồn chán vì cứ thui thủi một mình, suốt ngày nói chuyện với phiến đá.”
“Nhưng làm sao đằng ấy nói được tiếng người?”
“Tôi đâu có nói tiếng người.”
“Tớ không hiểu đấy. Làm sao chúng ta có thể thực hiện một cuộc trò chuyện như thế này? Giữa một con người và một con mèo?”
“Chúng ta đang ở trên đường biên của thế giới này, nói một ngôn ngữ chung. Có thế thôi.”
Hoshino ngẫm nghĩ một lúc. “Đường biên của thế giới? Một ngôn ngữ chung?”
“Cậu không hiểu cũng chả sao. Tôi có thể giải thích, nhưng dài dòng lắm,” Mèo Đen vẫy đuôi mấy cái ngắn gọn ra ý cho qua.
“Khoan đã,” Hoshino nói. “Đằng ấy là Đại tá Sanders phải không?”
“Đại tá gì?” Mèo Đen sưng sỉa nói. “Tôi chả biết cậu nói đến ai. Tôi là tôi, chứ chẳng phải là khác. Chỉ là lão mèo hàng xóm với cậu thôi.”
“Đằng ấy có tên không?”
“Hẳn nhiên là có.”
“Là gì?”
“Toro,” Mèo Đen đáp, hơi ngần ngừ.
“Toro?” Hoshino nhắc lại. “Một trong những món sushi?”
“Chính xác,” Toro đáp. “Ông chủ tôi là đầu bếp chuyên về sushi. Ông ấy có cả một con chó. Tên nó là Tekka – một món sushi khác.”
“Làm sao đằng ấy biết tên tớ?”
“Cậu nổi tiếng quá mà, cậu Hoshino,” Toro mỉm cười đáp.
Trước đây, Hoshino chưa bao giờ thấy một con mèo mỉm cười. Tuy nhiên, nụ cười nhanh chóng tắt và Toro trở về với vẻ thản nhiên quen thuộc của nó.
“Giống mèo chúng tôi biết mọi chuyện,” Toro nói. “Tôi biết hôm qua, ông Nakata đã chết và ở trong kia, có một phiến đá có giá trị. Tôi đã sống rất lâu và biết mọi chuyện xảy ra quanh đây.”
“Chà,” Hoshino lẩm bẩm, thán phục. “Này, thay vì hứng gió ngoài này, tại sao đằng ấy không vào đây chơi một tí, Toro?”
Vẫn nằm trên lan can, mèo ta lắc đầu. “Không, tôi thích ở đây. Vào trong đó, tôi không thoải mái. Với lại, trời đẹp thế này, tại sao ta không ở ngoài mà trò chuyện?”
“Thế cũng được,” Hoshino nói. “Này, đằng ấy có đói không? Tớ dám chắc là chúng mình có cái ăn đấy.”
Một lần nữa, Toro lại lắc đầu. “Cám ơn, ăn thì tôi rất sẵn sàng, nhưng tôi đang phải cố giảm cân. Ông chủ của tôi có một nhà hàng sushi, nên tôi hơi bị nhiều cholesterol. Nặng cân quá, nhảy lên nhảy xuống chả dễ dàng gì.”
“Thôi được, Toro, nói tớ nghe, có lý do gì khiến đằng ấy ở đây không?”
“Có,” Mèo Đen nói. “Tôi chắc một mình cậu xoay xở với phiến đá thì hơi vất vả.”
“Đằng ấy nói trúng phóc quá. Rõ là tớ đang bí.”
“Tôi nghĩ mình có thể giúp cậu một tay.”
“Thế thì tuyệt,” Hoshino nói. “Đằng ấy sẵn sàng giúp tớ một chân chứ?”
“Vấn đề là ở cái phiến đá ấy,” Toro nói và lắc đầu để xua một con ruồi vo ve bên tai. “Một khi trả phiến đá về đúng chỗ, là cậu xong nhiệm vụ. Sau đó, cậu muốn đi đâu thì đi. Tôi hiểu thế có đúng không?”
“Phải, đằng ấy hiểu đúng rồi. Một khi tớ đóng được phiến đá là hoàn tất chuyện. Nói như ông Nakata, khi anh đã mở một cái gì thì anh phải đóng nó lại. Đó là quy tắc.”
“Vì vậy tôi nghĩ tôi có thể mách cho cậu phải làm gì.”
“Đằng ấy biết tớ phải làm gì à?” Hoshino phấn khích hỏi.
“Dĩ nhiên,” mèo ta nói. “Tôi đã bảo cậu là giống mèo chúng tôi biết tuốt mà. Đâu có như bọn chó.”
“Vậy tớ phải làm gì?”
“Cậu phải giết nó đi,” Toro nói gọn lỏn.
“Giết nó?” Hoshino hỏi lại.
“Đúng. Cậu phải giết nó.”
“Nó là ai?”
“Cậu sẽ biết khi cậu trông thấy nó,” Mèo Đen giải thích. “Chừng nào cậu chưa thực mắt thấy nó thì cậu còn chưa hiểu tôi muốn nói gì đâu. Bởi vì nó không có hình thù nhất định. Nó thay đổi hình dạng tùy theo tình thế.”
“Đó có phải là một người không?”
“Không, không phải người. Chắc chắn thế.”
“Vậy trông nó như thế nào?”
“Cậu phải cố mà hiểu chứ,” Toro nói. “Tôi chẳng đã giải thích cho cậu rồi sao? Rằng cậu sẽ biết khi cậu trông thấy nó và nếu chưa thấy thì chưa biết? Có gì đâu mà cậu không hiểu?”
Hoshino thở dài. “Vậy bản chất đích thực của cái ấy là gì?”
“Cậu không cần phải biết điều đó,” Toro nói. “Rất khó giải thích. Hay có lẽ tôi nên nói, cậu không biết thì tốt hơn. Dù sao đi nữa, lúc này đây nó đang chờ thời cơ. Nấp ở một xó tối nào đó, nín thở, quan sát và chờ đợi. Nhưng nó sẽ không chờ vô thời hạn đâu. Sớm hay muộn nó sẽ hành động. Tôi đồ rằng có thể chính hôm nay. Và chắc chắn nó sẽ qua trước mặt cậu. Đó là khoảnh khắc thích hợp.”
“Thích hợp?
“Một cơ may ngàn năm có một,” Mèo Đen nói. “Cậu chỉ việc chờ và giết nó. Thế là xong chuyện. Rồi cậu tha hồ muốn đi đâu thì đi.”
“Như thế có phạm pháp không?”
“Tôi là mèo, chẳng biết gì về luật pháp,” Toro nói. “Tuy nhiên, vì nó không phải là người, nên tôi không tin là việc này dính dáng đến pháp luật. Dù sao đi nữa, cũng phải giết nó. Cả đến một con mèo như tôi cũng thấy rõ điều đó.”
“Ô-kê, cứ cho là tớ muốn giết nó, nhưng giết như thế nào? Tớ chẳng biết nó to ngần nào hay hình dáng nó ra sao. Thật khó mà lập kế hoạch mưu sát khi không biết những dữ kiện cơ bản về nạn nhân của mình.”
“Cái đó tùy cậu. Lấy búa đập. Đâm bằng dao. Bóp cổ. Thiêu sống. Cắn chết. Bất cứ cách nào cậu thấy hiệu quả, nhưng điều chủ yếu là cậu phải giết nó. Tiêu diệt nó một cách cực kỳ bạo liệt. Cậu đã từng ở Lực lượng Tự vệ phải không? Đã học bắn súng, đâm lê bằng tiền đóng thuế của nhân dân? Cậu đã là một người lính, vậy hãy dùng cái đầu của cậu mà nghĩ ra cách tốt nhất để giết nó.”
“Những điều tớ học trong LLTV là những gì phải làm trong chiến tranh,” Hoshino phản đối một cách yếu ớt. “Họ không huấn luyện tớ phục kích và giết một cái gì đó mà cả kích thước lẫn hình thù tớ đều không biết.”
“Nó sẽ tìm cách đột nhập qua cửa vào,” Toro nói tiếp, không đếm xỉa đến những lời phản đối của Hoshino. “Nhưng bất kể thế nào, cậu cũng không được để nó vào. Cậu phải đảm bảo giết chết nó trước khi nó lọt vào được bên trong cửa vào. Hiểu chưa? Cậu để nó tuột khỏi tay là đi đứt
“Cơ hội ngàn năm có một.”
“Chính xác,” Toro nói. “Mặc dù đó chỉ là một mỹ từ pháp.”
“Nhưng cái ấy có nguy hiểm lắm không?” Hoshino rụt rè hỏi. “Liệu nó có thể phản đòn tớ không?”

“Có lẽ nó không nguy hiểm đến thế khi nó đang di chuyển,” Toro nói. “Tuy nhiên khi nó dừng lại, thì hãy coi chừng. Lúc đó mới nguy hiểm. Cho nên khi nó chuyển động, đừng để nó thoát. Đó là lúc cậu cần phải ra tay kết liễu nó.”
“Có lẽ thôi ư?” Hoshino nói.
Mèo Đen không trả lời. Nó him mắt, vươn mình trên thành lan can và từ từ đứng dậy.
“Tôi sẽ gặp lại cậu, cậu Hoshino. Nhớ là phải giết nó. Nếu cậu không làm thế, ông Nakata sẽ không bao giờ yên nghỉ. Cậu yêu quý ông già chứ?”
“Phải. Ông ấy là người tốt.”
“Vậy thì cậu phải giết nó. Thanh toán nó một cách cực kỳ bạo liệt, như tôi đã nói. Ông Nakata ắt muốn cậu làm thế. Vậy hãy làm điều đó vì ông. Bây giờ cậu đã kế thừa vai trò của ông. Trước nay, cậu luôn luôn sống vô tư lự, không gánh trách nhiệm với ai, phải không? Bây giờ là cơ hội để cậu bù đắp lại. Đừng bỏ lỡ, nghe không? Tôi sẽ hết lòng ủng hộ cậu.”
“Nghe mà nức lòng,” Hoshino nói. “À mà này… tớ vừa nghĩ ra một điều.”
“Điều gì?”
“Có khi phiến đá cửa vào vẫn mở là để ử nó chăng?”
“Có thể thế,” Toro nói, không tự tin lắm. “Một điều nữa: nó chỉ di chuyển vào những giờ rất khuya. Vậy cậu nên ngủ vào ban ngày để đảm bảo ban đêm đừng có ngủ quên mà để nó thoát.”
Con mèo đen lẹ làng nhảy lên mái nhà bên cạnh, rướn thẳng đuôi và đi khỏi. Thân hình béo bự như thế mà nó đi nhanh thoăn thoắt. Từ hiên nhà, Hoshino nhìn theo đến lúc nó đi khuất. Toro không ngoái lại lấy một lần.
“Chà!” Hoshino nói rồi trở vào bếp, ngó quanh xem có gì khả dĩ dùng làm vũ khí. Gã tìm thấy một con dao bếp cực sắc cộng thêm một con dao khác nặng hơn, hình dáng như một chiếc rìu nhỏ. Căn bếp chỉ được trang bị một bộ nồi xoong thô sơ, nhưng lại có cả một bộ sưu tập dao phong phú. Thêm vào đó, gã chọn một cái búa to và một đoạn thừng nilông. Một chiếc cuốc phá băng hoàn tất “kho vũ khí” của gã.
Giá có một cây súng tự động nữa thì tuyệt, gã nghĩ trong khi tiếp tục lục lọi trong bếp. Hồi ở LLTV, gã được huấn luyện bắn súng tự động và từng là một xạ thủ khá. Không phải là gã hy vọng tìm thấy một cây súng đâu đó trong một cái tủ ly. Với lại, nếu có tiếng súng tự động trong một khu nhà ở yên tĩnh như thế này, ắt sẽ phải trả giá đắt.
Gã bày tất cả vũ khí của mình lên bàn trong phòng khách: hai con dao, chiếc cuốc chim, cái búa và đoạn dây thừng. Gã đặt cạnh đó một chiếc đèn pin, rồi ngồi xuống bên phiến đá và bắt đầu xoa.
“Ôi chao!” Hoshino nói với phiến đá. “Dao búa để đánh nhau với một cái mà thậm chí tớ không biết nó là cái gì! Mà lại do một con mèo đen hàng xóm chỉ đạo nữa! Hợp đồng kiểu quái gì thế này?”
Dĩ nhiên, phiến đá không bình luận
“Toro nói có lẽ nó không nguy hiểm. Có lẽ? Nhưng ngộ nhỡ một cái gì từ Công viên Khủng long xuất hiện thì sao? Khi ấy, tớ phải làm gì, hở? Tớ đến toi mất.”
Không thấy trả lời.
Hoshino nắm lấy chiếc búa, khoa lên mấy lần.
“Nghĩ cho cùng, tất cả là do số mệnh hết. Từ lúc tớ cho ông Nakata quá giang ở chặng nghỉ đến giờ, xem ra số mệnh đã định đoạt mọi sự. Kẻ duy nhất mù mờ không biết chính là tớ. Số mệnh là một điều thật kỳ lạ phải không? Cậu nghĩ thế nào về nó?”
Vẫn là một im lặng đá.
“Chậc, biết làm thế nào, phải không? Tớ là kẻ đã chọn con đường này, vậy tớ phải theo nó đến cùng. Khó mà tưởng tượng ra cái vật gớm ghiếc gì sẽ xuất hiện đêm nay, nhưng tớ bất chấp. Phải chiến đấu hết mình để diệt nó. Đời người ngắn ngủi và tớ đã có những ngày vui thú. Toro nói đây là cơ hội ngàn năm có một. Có lẽ ra đi trong vinh quang cũng không phải là điều tồi tệ. Chẳng gì cũng một lần thắng vì ông già Nakata thân yêu.”
Hoshino làm theo lời Mèo Đen và ngủ một giấc trên chiếc sofa để chuẩn bị cho đêm nay. Tuân thủ chỉ thị của một con mèo như thế này kể cũng kỳ lạ, nhưng vừa nằm xuống, gã đã đánh một giấc ngon lành khoảng một tiếng đồng hồ. Chiều, trở dậy, gã vào bếp, hâm món càri tôm cho hết đông lạnh và ăn với cơm. Sẩm tối, gã ngồi xuống cạnh phiến đá, dao và búa trong tay.
Gã tắt hết đèn trừ một ngọn nhỏ đầu giường. Gã tính như vậy là tốt nhất. Nó chỉ di chuyển vào ban đêm, gã nghĩ, cho nên mình cứ để càng tối càng tốt. “Tao cũng muốn kết thúc sớm chuyện này, vậy nếu mày có ở ngoài ấy thì hãy chiềng mặt ra! Ta hãy dứt điểm đi, Ô-kê?” Một khi giải quyết xong ở đây, mình sẽ về thẳng căn hộ ở Nagoya, gọi một em tới hú hí.”
Gã không nói chuyện với phiến đá nữa. Chỉ lặng lẽ đợi, chốc chốc lại đưa mắt nhìn đồng hồ treo tường. Lúc nào chán quá thì khoa dao khoa búa lên cho đỡ buồn. Nếu có gì xảy ra, thì chắc là phải vào quãng nửa đêm, gã nghĩ thầm. Nhưng dĩ nhiên cũng có thể sớm hơn và gã muốn đảm bảo chắc chắn không bỏ lỡ cơ hội – cơ hội ngàn năm có một của gã. Bây giờ không phải lúc lơi lỏng. Chốc chốc, gã lại cắn một miếng bánh quy giòn và nhấp một ngụm nước khoáng.
“Này phiến đá,” Hoshino thì thầm. “Đã quá nửa đêm rồi, giờ ma quỷ lên đường. Khoảnh khắc của chân lý. Cậu với tớ hãy phát giác ra điều gì sắp xảy đến nhé, cậu nghĩ sao? (Gã với tay sờ phiến đá. Có thể chỉ do gã tưởng tượng, nhưng mặt đá hình như hơi nóng hơn mọi khi. Gã xoa đi xoa lại, huy động hết can đảm). Tớ muốn cậu cũng ủng hộ tớ, Ô-kê? Tớ cần sự hỗ trợ tinh thần.”
Khoảng hơn ba giờ sáng một chút, một tiếng lạo xạo khẽ bắt đầu vẳng ra từ phòng bên, nơi đặt xác Nakata. Tựa như một cái gì đang bò trên chiếu tatami. Nhưng phòng đó trải thảm, làm gì có tatami.
Hoshino ngẩng đầu lên và dỏng tai nghe thật kỹ. Không thể nhầm được, gã nghĩ, một cái gì đó đang diễn ra trong ấy, tuy mình chưa biết đó là gì. Trống ngực gã bắt đầu đánh. Gã giắt cái búa vào thắt lưng, tay phải nắm chắc con dao nhọn, tay trái cầm đèn pin và đứng dậy.
“Đi nào…” gã ra lệnh, không nhằm cụ thể ai.
Gã lặng lẽ trườn đến cửa phòng Nakata và mở ra. Gã bấm đèn pin và rọi nhanh quanhc chết. Dứt khoát là tiếng lạo xạo phát ra từ chỗ này. Chùm tia sáng chiếu rõ một vật dài trăng trắng đang oằn oại trườn ra từ miệng Nakata. Nó khiến Hoshino nghĩ đến một quả bầu. Cỡ bằng bắp tay đàn ông và mặc dầu không biết nó dài bao nhiêu. Hoshino đoán chừng nó đã ra được một nửa. Thân nó ướt và lầy nhầy. Miệng Nakata bị banh rộng ra như miệng một con rắn, để cho vật đó chui ra, rộng hoác đến độ tưởng chừng hàm lão đã long ra.
Hoshino nuốt khan đánh ực một tiếng. Tay cầm đèn pin hơi run làm ánh sáng chao đảo. Chà, giờ mình phải làm thế nào để giết nó đây? gã tự hỏi. Dường như nó không có chân tay, mắt mũi chi cả. Trơn nhầy thế thì làm sao mà túm chặt được nó. Vậy mình phải làm thế nào để tiêu diệt nó? Mà nó là cái loại sinh vật gì mới được chứ?
Phải chăng nó là một thứ ký sinh trùng vẫn ẩn náu bên trong Nakata suốt từ trước đến nay? Hay đó là hồn của ông già? Không, không thể thế được. Trực giác của Hoshino bảo gã rằng cái vật ghê tởm này không thể đã trú ngụ bên trong Nakata được. Đến cả mình, vốn chẳng thông minh gì, cũng biết thế. Chắc chắn nó từ một nơi nào khác đến và chỉ nhằm vào được bên trong cửa vào thông qua ông Nakata thôi. Nó xuất hiện vào thời điểm thích hợp, sử dụng ông Nakata như một thứ hành lang để đạt tới mục đích của nó. Và mình không thể để điều đó xảy ra. Vì vậy mình phải giết nó. Như Toro nói, tiêu diệt nó một cách cực kỳ bạo liệt.
Hoshino tiến thẳng đến chỗ Nakata và mau lẹ cắm dao vào chỗ gã đoán là đầu vật đó. Gã rút dao và tiếp tục đâm, đâm tới tấp. Nhưng lưỡi dao dường như không gặp một lực cản nào đáng kể, chỉ thấy nó ngập thun thút như khi đâm vào một lá rau mềm. Bên dưới lớp ngoài trơn nhẫy, không có thịt cũng chẳng có xương. Không phủ tạng, không óc. Mỗi khi gã rút dao ra, chấy nhầy lại phủ kín vết thương ngay lập tức. Không thấy máu hoặc chất lỏng nào chảy ra. Nó không hề cảm thấy gì, Hoshino nghĩ thầm. Bất chấp sự tấn công ác liệt của Hoshino,ật nó vẫn tiến tục trườn ra khỏi miệng Nakata.
Hoshino vứt dao xuống sàn và trở lại phòng khách lấy con dao hình rìu. Gã bổ liên hồi xuống cái vật lạ trăng trắng ấy, nhưng đúng như gã đã nghĩ, chẳng có gì bên trong – vẫn chỉ là chất nhờn trăng trắng như bên ngoài. Gã chém thêm mấy nhát, cuối cùng chặt đứt một phần của cái đầu, nó quằn quại trên sàn một lúc như con sên, rồi ngừng cựa quậy như thể chết hẳn. Điều đó không ảnh hươởg gì đến phần thân còn lại vẫn tiếp tục chuồi ra. Chất nhầy mau chóng phủ kín vết thương, phình lên thành thử vật đó nom vẫn như trước. Tất cả những diễn biến vừa rồi không hề làm nó chậm lại trong khi uốn mình lách ra khỏi miệng ông già.
Cuối cùng, toàn bộ vật đó đã ra hết, để lộ hình thù trọn ven của nó. Nó dài độ một mét, có một cái đuôi – điều đó khiến cho Hoshino có thể biết chắc đâu là đầu, đâu là đuôi. Đuôi nó giống như đuôi kỳ nhông, ngắn và to bè, chóp đột ngột thuôn nhọn thành một cái chấm. Không chân tay, không mồm, không mắt mũi. Nhưng rành là nó có một ý chí riêng. Không, Hoshino nghĩ, nói cho đúng, tất cả những gì nó có là một ý chí. Gã không cần phải suy luận một cách lô gích, đơn giản là gã biết thế. Khi nó chuyển động, nó hiện nguyên hình như thế này, gã nghĩ. Một ớn lạnh chạy dọc sống lưng gã. Dù thế nào đi nữa, gã kết luận, mình phải giết nó.
Tiếp đó, gã thử dùng búa, nhưng vô hiệu. Đập lõm chỗ nào, chất nhầy và phần thịt quanh đó lại đầy lên liền. Gã mang một cái bàn nhỏ đến và dùng một chân bàn nện nó, nhưng không cách nào làm chậm được bước tiến không nao núng của nó. Như một con rắn vụng về, nó từ từ, đều đặn trườn về phía phòng bên và phiến đá cửa vào.
Nó không giống bất kỳ thứ sinh vật nào mình từng thấy, Hoshino nghĩ. Không một thứ vũ khí nào làm gì được nó. Nó không có tim để ta đâm, không có cổ để ta bóp nghẹt. Vậy mình phải làm thế nào đây? Vật này hiểm ác, ta phải ngăn chặn không cho nó vào được bên trong cửa vào. Toro đã nói khi nào trong thấy nó, mình sẽ biết, và quả đúng như thế. Mình không thể để cho nó sống được.
Hoshino quay trở lại bếp để tìm xem có gì khác khả dĩ dùng làm vũ khi, nhưng chẳng thấy gì. Đột nhiên, gã nhìn xuống phiến đá dưới chân. Phiến đá cửa vào. Đây rồi! Mình có thể dùng phiến đá để đập nát nó. Trong ánh sáng lờ mờ, phiến đá có một ánh đo đỏ hơn mọi khi. Gã cúi xuống thử nhấc nó lên. Phiến đá lúc này nặng ghê gớm và gã không chuyển dịch được nó lấy một phân. “Tớ hiểu rồi: cậu lại trở thành phiến đá cửa vào,” gã nói. “Vậy nếu tớ đóng cậu lại trước khi vạt ấy đến đây, nó sẽ không thể vào bên trong được.”
Hoshino dốc toàn lực, hì hụi cố nhấc phiến đá, nhưng vô hiệu.
“Cậu không hề nhúc nhích,” gã nói với phiến đá và hít vào thật mạnh. “Tớ nghĩ cậu còn nặng hơn cả lần trước. Ráng đến rụng cả hòn dái mà không chuyển một tí nào.”
Đằng sau gã, tiếng rào rào vẫn tiếp tục. Cái vật trăng trắng vẫn đều đặn tiến mỗi lúc một gần. Gã không còn mấy thì giờ.
“Ráng một lần nữa nào,” Hoshino nói. Gã đặt tay lên phiến dá, hít một hơi dài đầy phổi và nín thở. Tập trung toàn bộ năng lượng vào một điểm và đặt cả hai tay vào một cạnh của phiến đá. Nếu lần này mà không được, gã sẽ không có cơ may thứ hai nào nữa. Nào, Hoshino! Bây giờ hoặc không bao giờ! Dù chết cũng phải làm bằng được! Dốc hết sức lực có thể huy động được, gã hự một tiếng và bẩy lên. Phiến đá hơi nhích lên. Gã dồn nốt chút năng lượng cuối cùng vào cuộc và cuối cùng – tựa hồ gã phải bóc nó khỏi sàn – nâng được nó lên.
Đầu gã như muốn xỉu và các cơ tay của gã đau như xéảm giác như cặp tinh hoàn đã vỡ nát từ lâu rồi. Tuy nhiên, gã không thể nâng được nó cao hơn nữa. Hoshino nghĩ đến Nakata, ông già đã hy sinh đời mình để mở và đóng phiến đá. Bằng mọi giá, gã phải đi tới cùng, hoàn tất công việc ông để lại. Toro đã bảo gã phải kế thừa nhiệm vụ của ông già. Cơ bắp gã đang gào xin được tiếp máu mới, phổi thì chết thèm không khí để tạo ra máu đó, nhưng gã không thở được. Gã biết mình đã gần kề cái chết, vực thẳm của hư không đã rộng hoác ngay trước mắt gã. Nhưng gã phớt lờ, tổng động viên sức lực thêm một lần cuối và kéo phiến đá về phía mình. Nó dựng lên, ngửa ra rồi uỳnh một cái đổ sầm xuống sàn. Sàn rung lên dưới sức chấn động, cửa kính lanh canh.
Hoshino ngồi bệt đó, miệng há hốc đớp không khí. “Mày làm tốt đấy,” một lát sau lấy lại được hơi, gã tự nhủ vậy.
Một khi đã đóng được cửa vào, xử lý với cái vật trăng trắng nọ trở nên đơn giản lạ lùng. Đích đến bị chẹn lối và nó biết thế. Nó ngưng đà tiến về phía trước và bắt đầu bò quanh phòng tìm một chỗ trốn, có lẽ hy vọng trườn trở vào miệng Nakata. Nhưng nó không đủ sức thoát thân. Hoshino đuổi theo và chặt nó ra từng mảnh bằng con dao hình rìu. Gã còn băm những mảnh đã chặt thành những mẩu nhỏ hơn nữa. Những mẩu bé tí này giãy giụa một lúc trên sàn nhưng rồi kiệt sức, nằm im không động đậy. Chúng cuộn chặt mình thành những viên tròn nhỏ và chết, thảm trải sàn lấp loáng chất nhầy của chúng. Hoshino vun tất cả lại bằng một cái hót rác, trút vào một túi đựng rác, lấy dây thắt chặt miệng lại rồi bỏ vào một cái túi to hơn cũng thắt chặt miệng. Cuối cùng, gã bọc tất cả vào một tấm vải đen dày tìm thấy trong phòng chứa đồ.
Hoàn toàn kiệt lực, gã ngồi bệt xuống sàn, hai vai nhô lên thụt xuống theo nhịp thở dốc. Tay gã run lẩy bẩy. Gã muốn nói gì đó nhưng không cất nên lời. “Mày đã làm tốt, Hoshino,” một lát sau, gã mới thốt ra được.
Liệu những tiếng động khi mình tấn công cái vật lầy nhầy màu trắng và tiếng phiến đá đổ rầm xuống sàn có làm cho những người cùng chung cư thức giấc không? gã lo lắng tự hỏi. Không chừng có người đang quay số gọi 911 cũng nên. May thay không có gì xảy ra. Không còi xe cảnh sát, không ai đập cửa thình thình. Điều tối kỵ lúc này là thấy cảnh sát xộc tới.
Hoshino biết những mảnh và mẩu của cái vật nhầy trắng gói chặt trong mấy lần nilông và vải không dễ gì mà hồi sinh được. Chẳng còn chỗ nào cho chúng đi, gã nghĩ. Nhưng cứ cẩn thận cho chắc ăn vẫn hơn, thế nên gã quyết định rằng hửng sáng một cái là sẽ mang chúng ra đốt sạch ở bãi biển. Biến chúng thành tro.
Và khi mọi chuyện xong xuôi, gã sẽ trở về Nagoya. Về nhà.
Lúc này đã gần bốn giờ sáng và bên ngoài đã sáng. Đến lúc đi được rồi. Hoshino nhét quần áo vào túi dết, kể cả cặp kính râm và chiếc mũ Chunichi Dragons – giấu nó đi cho an toàn. Để cảnh sát tóm trước khi xong việc thì hỏng bét. Gã mang theo một chai dầu nấu bếp để nhóm lửa. Gã chợt nhớ chiếc CD Tam tấu Archduke và quẳng nó vào túi luôn thể.
Cuối cùng, gã vào phòng nơi thi hài Nakata nằm trên giường. Máy điều hòa nhiệt độ vẫn chạy hết cỡ và căn phòng lạnh cóng.
“Ông Nakata,” gã nói, “cháu sắp sửa đi đây, cháu xin lỗi, nhưng cháu không thể ở lại đây mãi được. Ra ga, cháu sẽ gọi cảnh sát để họ đến lo liệu cho thi thể của ông, phần còn lại sẽ để cánh tuần tra giải quyết, được không? Ông cháu ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa, nhưng cháu sẽ không bao giờ quên ông. Thậm chí cháu nghĩ, ngay cả nếu cháu có cố quên ông, cũng không được.”áy điều hòa nhiệt độ chợt tắt với một tiếng lạch xạch.
“Ông biết không,” gã nói tiếp, “trong tương lai, bất cứ khi nào có chuyện gì xảy ra, cháu sẽ luôn luôn tự hỏi: Ông Nakata sẽ nói gì về chuyện này? Ở địa vị mình, ông Nakata sẽ làm gì? Cháu sẽ luôn luôn có người mà cháu có thể thỉnh vấn. Và ngẫm ra, đó là một điều lớn lao. Nó như thể một phần của ông vẫn sống bên trong cháu. Đành rằng cháu không phải là cái vỏ bọc tốt nhất ông có thể kiếm được, nhưng còn hơn không, ông nhỉ?”
Nhưng người chịu chuyện của gã lúc này chỉ là cái vỏ ngoài của Nakata. Phần quan trọng nhất của lão, từ lâu, đã bỏ đi đến một nơi khác rồi. Và Hoshino hiểu thế.
“Này anh bạn,” gã nói với phiến đá và với tay ra chạm vào bề mặt của nó – lúc này nó đã trở lại là một phiến đá bình thường, mát lạnh và nham nháp. “Tớ đi đây. Về nhà ở Nagoya. Tớ sẽ phải để các tay cớm săn sóc cậu luôn thể. Tớ biết, lẽ ra tớ phải mang trả cậu về miếu đường vốn là nơi chốn của cậu, nhưng trí nhớ của tớ không được tốt và tớ không còn nhớ đó là tòa miếu nào nữa. Xin cậu thứ lỗi cho. Đừng có nguyền rủa hay vật tớ hé! Tớ chỉ làm theo lời Đại tá Sanders thôi. Vậy nếu cậu định trút rủa nguyền lên đầu ai, thì ông ta mới đúng là đối tượng. Dù sao đi nữa, tớ cũng rất vui sướng được gặp cậu. Tớ cũng sẽ không quên cậu.”
Hoshino xỏ chân vào đôi giày Nike đế dày và bước ra khỏi căn hộ, không khóa cửa. Một tay xách túi dết đựng tư trang, tay kia mang cái bọc đựng xác cái vật trắng nhầy. “Chư vị,” gã nói, ngước mắt nhìn bình minh đang lên ở đằng đông, “đã đến lúc ta nổi lửa đây!”


Sử dụng phím mũi tên (hoặc A/D) để LÙI/SANG chương.